logo



19 - Tieu de-01
GIỚI THIỆU

Tinh thần khởi nghiệp, tạm dịch từ chữ “entrepreneurship” vốn là một từ rất khó dịch cho đúng sang tiếng Việt. “Entrepreneurship” là năng lực và ý muốn xây dựng, tổ chức và quản lý một đơn vị sản xuất, kinh doanh, hay dịch vụ nhằm tạo ra lợi nhuận, với tinh thần dám chấp nhận rủi ro. Thành ngữ tiếng Việt có thể phản ánh sát tinh thần này là “dám làm dám chịu”. Khởi sự một doanh nghiệp mới là công việc đòi hỏi phải có tinh thần này và thể hiện rõ ý nghĩa của nó, bởi vậy “entrepreurship” thường được dịch sang tiếng Việt là “tinh thần khởi nghiệp”.

Đặc điểm của tinh thần khởi nghiệp là sự sáng tạo và dám chấp nhận rủi ro. Tục ngữ Việt Nam có câu “có chí làm quan có gan làm giàu”, “có gan” tức là có khả năng chịu đựng rủi ro và vượt qua nó. Nhà trường Việt Nam xưa nay rất ít dạy cho sinh viên tinh thần mạo hiểm. Ngược lại, nhiều người xem mục đích tối hậu của việc học là có được tấm bằng nhằm tìm được chỗ làm để bán sức lao động nuôi mình, tức là tìm một công việc an toàn cho dù thu nhập thấp, thay vì vươn lên bằng sự sáng tạo và chấp nhận thử thách, rủi ro để tạo ra sự nghiệp của mình.

Tinh thần khởi nghiệp có ý nghĩa quan trọng như thế nào trong cuộc đời mỗi người nói chung, và trong công việc quản trị kinh doanh nói riêng ? Làm thế nào để vun đắp tinh thần này trong sinh viên, và chuẩn bị cho họ những kinh nghiệm cần thiết để sẵn sàng thể nghiệm mọi sự sáng tạo, đổi mới, quản lý được những rủi ro có thể xảy ra, đương đầu và vượt qua thách thức ? Thế nào là chi phí cơ hội, tiềm năng tăng trưởng và gặt hái lợi nhuận ? Khả năng tưởng tượng, việc xây dựng chiến lược, phân tích mô hình kinh doanh, phân tích tình thế và bối cảnh, đánh giá rủi ro về mặt tài chính, đánh giá lợi thế cạnh tranh v.v. có ý nghĩa như thế nào trong việc hình dung rủi ro và khả năng vượt qua nó ?

Những câu hỏi trên đây là đề tài trình bày trong buổi nói chuyện của Phó Giáo sư Daniel Matre, Khoa Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Alverno, Hoa Kỳ, do Trung tâm Nghiên cứu và Đánh giá GDĐH tổ chức. 

Tải về tài liệubài giảng tại đây.

DIỄN GIẢ

Dan Matre, Business Photo Crop and Filtered B&W (2)PGS. Daniel Matre tốt nghiệp Quản trị Kinh doanh Trường Kinh doanh Sheldon B. Lubar, UWM, từng học ngành Thiết kế Công nghiệp; hiện giảng dạy bậc đại học và sau đại học các môn: (1) Trí tưởng tượng và sự Sáng tạo, Đổi mới; (2) Tinh thần Khởi nghiệp; (3) Tiếp thị Toàn cầu; (4) Quản lý tổ chức; và (5) Tiếp thị và Bán hàng. Ông cũng từng dạy Mỹ thuật và Thiết kế Công nghiệp ở trường Milwaukee Institute of Art and Design.

Ông cũng đồng thời là một doanh nhân. Là thành viên trong ban lãnh đạo Tập đoàn Matre Group, LLC; Milwaukee, WI, ông đã tạo dựng mối quan hệ với các nhà cung cấp ở vòng cung Thái Bình Dương, bao gồm Đài Loan, Hong Kong, Thượng Hải, Bắc Kinh. Đồng thời trong hoạt động chuyên môn, ông đã thiết kế hàng chục sản phẩm có đăng ký bằng sáng chế và những sản phẩm này đã được phân phối trong hệ thống Walmart trên toàn nước Mỹ, Canada và Mexico.

PGS. Daniel Matre là người sáng lập, đồng thời giữ vai trò là Chủ tịch, kiêm Tổng Giám đốc Điều hành Công ty Matre Design, Inc., Milwaukee, WI từ năm 2006 đến nay. Đây là một công ty chuyên về thiết kế công nghiệp và tư vấn phát triển. Khách hàng của công ty có đến hàng ngàn, một vài ví dụ có thể kể là ACCO/Swingline, Brady, Briggs & Stratton, Case/New Holland, Culligan, GE Medical Systems, Giddings & Lewis, Kohler Co., Harley-Davidson, Master Lock, Philips, Plexus, Sears, SPX, Test Rite, Toro, TREK, Wal-Mart và Whirlpool.

Ông có nhiều thành tích trong những hoạt động phục vụ cộng đồng. Hiện nay ông là Chủ tịch Hội đồng Giảng viên của Trường Alverno, Hoa Kỳ, nhiệm kỳ 2014-2015. Ông phụ trách dàn nhạc của Phòng Thương mại Milwaukee, và là thành viên của rất nhiều Quỹ, Hội đồng, và các tổ chức xã hội có chức năng phục vụ cộng đồng. Ông cũng có bằng lái máy bay, từng là chủ tịch Câu lạc bộ đua xe Porsche.

THỜI GIAN – ĐỊA ĐIỂM

♦  Thời gian: Sáng Thứ Bảy, ngày 27.9.2014, từ 8.30 đến 11.30.

♦  Địa điểm: Phòng A.803, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, 300A Nguyễn Tất Thành, P. 13, Q. 4, TP. HCM.

ĐĂNG KÝ THAM DỰ

♦  Sinh hoạt học thuật này nhằm phục vụ giảng viên, sinh viên Trường ĐH Nguyễn Tất Thành, không thu phí, nhưng cần đăng ký tham dự. Vui lòng tải về Phiếu Đăng ký tham dự, điền đầy đủ thông tin và gửi lại địa chỉ email: cheer@ntt.edu.vn.

♦  Thời gian đăng ký: Đến hết ngày 25/9/2014.

♦  Mọi chi tiết xin liên hệ: Trung tâm Nghiên cứu và Đánh giá Giáo dục Đại học
                                            298 A Nguyễn Tất Thành, P. 13, Q. 4, TP. HCM
                                          Tel: (848) 3940 2810  –  Fax: (848) 3940 4759

TƯ LIỆU

Brochure SHHT

Người khởi nghiệp là người tổ chức, quản lý, và sẵn sàng chấp nhận rủi ro trong việc sáng lập và vận hành một doanh nghiệp. Họ là nhân tố tạo ra thay đổi. Khởi nghiệp là quá trình khám phá những cách thức mới trong việc kết hợp các nguồn lực để tạo ra giá trị và lợi nhuận.  Khi giá trị thị trường tạo ra do sự kết hợp các nguồn lực này lớn hơn giá trị thị trường mà những nguồn lực đó có thể tạo ra được ở nơi khác, người khởi nghiệp sẽ thu được lợi nhuận.  

Ví dụ, một người sử dụng các nguồn tài nguyên cần thiết để sản xuất ra một cặp quần jean có thể bán với giá 30 USD. Nếu anh ta đóng gói sản phẩm này trong một cái túi thật đẹp và bán với giá 50 USD anh ta sẽ kiếm được lợi nhuận bằng cách làm tăng giá trị món hàng nhờ sự kết hợp giữa sản phẩm và giá trị mỹ thuật của bao bì. Sở dĩ có thể so sánh như thế bởi vì trong thị trường tài nguyên cạnh tranh, chi phí sản xuất phụ thuộc vào việc tìm được giá tốt nhất trong số những lựa chọn mà người ta có thể có. Giá đó ngang với giá trị mà nguồn tài nguyên này có thể tạo ra trong việc sử dụng nó tốt nhất trong lần kế tiếp. Bởi vì cái giá mua nguồn lực có thể đo lường được chi phí cơ hội này— giá trị của việc bỏ qua những cơ hội lựa chọn khác—lợi nhuận mà người sáng nghiệp tạo ra phản ánh khối lượng giá trị họ đã làm tăng thêm bằng cách sử dụng những nguồn lực trong tay họ.

Tuy nhiên, các nhà khởi nghiệp có thể bị lỗ vốn khi họ làm giảm giá trị những nguồn tài nguyên trong tay mình; nghĩa là những nguồn tài nguyên đó có khả năng tạo ra giá trị lớn hơn ở một nơi nào khác. Thua lỗ có nghĩa là một nhà sáng nghiệp đã bán cặp quần jean trong cái túi xinh đẹp có giá 50 USD với giá 30 USD. Lỗi lầm trong việc đánh giá là một phần trong bài học về tinh thần khởi nghiệp. Hệ thống lời lỗ của chủ nghĩa tư bản giúp sắp xếp trật tự rất nhanh thông qua nhiều cách kết hợp nguồn lực khác nhau mà nhà khởi nghiệp có thể khám phá ra. Sự tăng trưởng lành mạnh của nền kinh tế phụ thuộc vào hiệu quả của quá trình các ý tưởng mới được khám phá, được thực hiện, và có thể thấy ngay sự thành công hay thất bại. Xác định nhanh chóng sự thất bại cũng quan trọng chẳng kém gì xác định thành công, vì điều này có thể giúp nguồn lực có thể nhanh chóng chuyển tới một nơi nào khác để khởi sự một nỗ lực mới. Đó là mặt tích cực của sự thất bại trong kinh doanh.

tải xuống 1Các nhà khởi nghiệp thành công là những người mở rộng kích cỡ cái bánh kinh tế cho tất cả mọi người. Bill Gates, người đã tạo ra nền tảng cho cái máy vi tính đầu tiên khi còn là sinh viên Harvard, đã sáng lập Microsoft năm 1975. Trong những năm 1980s, IBM ký hợp đồng với Gates cung cấp hệ điều hành cho các máy tính của họ, mà ngày nay ta biết đến dưới cái tên MS-DOS. Gates kiếm được phần mềm này từ một doanh nghiệp khác, về bản chất đã biến cặp quần jean 30 USD thành một sản phẩm tỉ tỉ đô la Mỹ. Phần mềm vận hành Microsoft’s Office và Windows giờ đây thống trị hơn 90% máy tính trên toàn thế giới. Bằng cách làm cho phần mềm máy tính làm tăng năng suất làm việc của con người, Gates đã mở rộng khả năng của chúng ta trong việc tạo ra kết quả (và thu nhập) dẫn đến một tiêu chuẩn sống cao hơn cho tất cả mọi người.

Sam Walton, người sáng lập Wal-Mart, là một nhà khởi nghiệp khác đã làm thay đổi hàng vạn cuộc đời theo một cách tích cực. Sáng kiến của ông trong việc phân phối các trung tâm chứa hàng và kiểm soát hàng tồn kho đã khiến Wal-Mart tăng trưởng trong vòng chưa đầy 30 năm từ chỗ là một cửa hàng nhỏ lẻ ở Arkansas trở thành chuỗi bán lẻ lớn nhất nước. Người mua hàng được lợi nhờ giá thấp, và địa điểm tiện lợi mà Wal-Marts mang lại. Những ví dụ khác có thể kể là Ted Turner (hãng tin CNN), Henry Ford (hãng xe hơi Ford ), Ray Kroc (nhượng quyền thương hiệu McDonald), và Fred Smith (FedEx). Cùng với họ,  Walton đã cải thiện cuộc sống hàng ngày của cả tỉ người trên thế giới này.

Có một số nghiên cứu thực nghiệm đã được thực hiện để tìm hiểu những hoạt động khởi nghiệp đã đóng góp như thế nào trong sự tăng trưởng kinh tế. Hầu hết các nghiên cứu này đều dùng dữ liệu quốc tế được khảo sát và ấn hành hàng năm trong tài liệu Global Entrepreneurship Monitor. Những nghiên cứu này kết luận rằng tỉ lệ tăng trưởng kinh tế ở tất cả các nước có thể giải thích được bằng tỉ lệ khác nhau trong hoạt động khởi nghiệp giữa các nước. Kết quả tương tự khi ta so sánh các địa phương với quy mô nhỏ hơn. 

Các nhà kinh tế đã khám phá ra rằng rót thêm nhiều nguồn vốn mạo hiểm cũng không nhất thiết làm tăng tinh thần khởi nghiệp. Tư bản có tính năng động mạnh mẽ hơn là lao động, và nguồn tiền sẽ chảy về nơi mà sự sáng tạo và những ý tưởng có khả năng tạo ra lợi nhuận. Điều này có nghĩa là  đối với chính sách phát triển kinh tế, thúc đẩy những cá nhân có tinh thần khởi nghiệp thì quan trọng hơn nhiều so với thu hút thêm nhiều nguồn vốn mạo hiểm trong giai đoạn khởi sự. Tuy nguồn vốn lớn có thể giúp tăng cường khả năng tồn tại của một doanh nghiệp mới, nó không tạo ra ý tưởng mới. Nguồn tiền chạy theo ý tưởng chứ không phải là ngược lại.

—————————————————————————————–

Người dịch: Phạm Thị Ly

Nguồn: http://www.econlib.org/library/Enc/Entrepreneurship.html

——————————————————————————————

Tư liệu tham khảo

Tổng quan

Gwartney, James D., and Robert A. Lawson. Economic Freedom of the World: 2002 Annual Report. Vancouver: Fraser Institute, 2002. Information about this book can be found online at: http://www.freetheworld.com/.

Hughes, Jonathan R. T. The Vital Few: American Economic Progress and Its Protagonists. Exp. ed. New York: Oxford University Press, 1986.

Kirzner, Israel M. Competition and Entrepreneurship. Chicago: University of Chicago Press, 1973. Information about Kirzner and his works can be found online at: http://www.worldhistory.com/wiki/I/Israel-Kirzner.htm.

Kirzner, Israel M. “Entrepreneurial Discovery and the Competitive Market Process: An Austrian Approach.” Journal of Economic Literature 35, no. 1 (1997): 60–85.

Lee, Dwight R. “The Seeds of Entrepreneurship.” Journal of Private Enterprise 7, no. 1 (1991): 20–35.

Reynolds, Paul D., Michael Hay, and S. Michael Camp. Global Entrepreneurship Monitor. Kansas City, Mo.: Kauffman Center for Entrepreneurial Leadership, 1999. Information about this book can be found online at: http://www.gemconsortium.org/.

Rosenberg, Nathan, and L. E. Birdzell Jr. How the West Grew Rich. New York: Basic Books, 1986.

Schumpeter, Joseph A. Capitalism, Socialism, and Democracy. New York: Harper, 1942.

Schumpeter, Joseph A. The Theory of Economic Development. 1911. Cambridge: Harvard University Press, 1934. Information about Schumpeter and his works can be found online at: http://cepa.newschool.edu/het/profiles/schump.htm.

Zacharakis, Andrew L., William D. Bygrave, and Dean A. Shepherd. Global Entrepreneurship Monitor: National Entrepreneurship Assessment: United States of America. Kansas City, Mo.: Kauffman Center for Entrepreneurial Leadership, 2000. Information about this book can be found online at: http://www.gemconsortium.org/.

Tài liệu nâng cao

Bates, Timothy. “Entrepreneur Human Capital Inputs and Small Business Longevity.” Review of Economics and Statistics 72, no. 4 (1990): 551–559.

Baumol, William J. “Entrepreneurship: Productive, Unproductive and Destructive.” Journal of Political Economy 98, no. 5 (1990): 893–921.

Baumol, William J. The Free-Market Innovation Machine: Analyzing the Growth Miracle of Capitalism. Princeton: Princeton University Press, 2002.

Blanchflower, David G., and Andrew J. Oswald. “What Makes an Entrepreneur?” Journal of Labor Economics 16, no. 1 (1998): 26–60.

Blau, David M. “A Time-Series Analysis of Self-Employment in the United States.” Journal of Political Economy 95, no. 3 (1987): 445–467.

Blomstrom, Magnus, Robert E. Lipsey, and Mario Zejan. “Is Fixed Investment the Key to Economic Growth?” Quarterly Journal of Economics 111, no. 1 (1996): 269–276.

Boettke, Peter J. Calculation and Coordination: Essays on Socialism and Transitional Political Economy. New York: Routledge, 2001.

Boettke, Peter J., and Christopher J. Coyne. “Entrepreneurship and Development: Cause or Consequence?” Advances in Austrian Economics 6 (2003): 67–87.

Bruce, Donald. “Taxes and Entrepreneurial Endurance: Evidence from the Self-Employed.” National Tax Journal 55, no. 1 (2002): 5–24.

Evans, David S., and Linda S. Leighton. “Some Empirical Aspects of Entrepreneurship.” American Economic Review 79, no. 3 (1989): 519–535.

Hamilton, Barton H. “Does Entrepreneurship Pay? An Empirical Analysis of the Returns to Self Employment.” Journal of Political Economy 108, no. 3 (2000): 604–631.

Holtz-Eakin, Douglas, David Joulfaian, and Harvey S. Rosen. “Sticking It Out: Entrepreneurial Survival and Liquidity Constraints.” Journal of Political Economy 102, no. 1 (1994): 53–75.

Kreft, Steven F., and Russell S. Sobel. “Public Policy, Entrepreneurship, and Economic Growth.” West Virginia University Entrepreneurship Center Working Paper, 2003. This article and some related research can be found online at: http://www.be.wvu.edu/ec/research.htm.