logo



25
THáNG 7
2017

Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học

KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

TS. Đỗ Thị Ngọc Quyên

 

Giới thiệu sơ bộ về kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học

img_kiemdinhKiểm định chất lượng là công cụ đảm bảo chất lượng giáo dục bắt nguồn từ nền giáo dục đại học Mỹ từ cuối thế kỷ 19 và được sử dụng chủ yếu nhằm tăng cường trách nhiệm giải trình ở nhiều hệ thống giáo dục đại học trên thế giới. KĐCL được định nghĩa là “quá trình một tổ chức chính phủ hoặc tư nhân đánh giá chất lượng của toàn bộ cơ sở giáo dục đại học hoặc của một chương trình giáo dục cụ thể nhằm chính thức công nhận cơ sở hoặc chương trình đã đáp ứng những tiêu chuẩn hoặc tiêu chí tối thiểu nào đó do tổ chức đánh giá đặt ra” (Vlăsceanu, Grunberg et al. 2007, pp. 25).

Có thể nói KĐCL là công cụ phổ biến nhất trong ĐBCL giáo dục đại học trên thế giới. Những quốc gia có nền giáo dục phát triển ở châu Âu như Hà Lan, Bỉ, Đức, đã sử dụng KĐCL từ nhiều năm nay. Ở khu vực Đông Âu, các nước như Albania, Bulgaria, Hungary, and Romania cũng bắt đầu sử dụng KĐCL từ cuối những năm 90 của thế kỷ trước. Các nước Mỹ La tinh và vùng Vịnh như Oman, Kuwait, Qatar, Arab Xeut hay Chi Lê cũng không đứng ngoài xu hướng này.

Ở khu vực châu Á và châu Á Thái Bình Dương, KĐCL có mặt ở khắp mọi nơi từ Australia Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Brunei, Lào và Cam-pu-chia. Đặc biệt khu vực Đông Nam Á đã phát triển hệ thống KĐCL riêng được biết đến với tên gọi AUN-QA dành cho các trường đại học trong khu vực. Ở khu vực châu Phi, Kenya và Nam Phi cũng là những nước đã sử dụng KĐCL.

Kiểm định chất lượng có thể được triển khai ở hai cấp, cấp cơ sở giáo dục (thường gọi là cấp trường) và cấp chương trình đào tạo. Ở cấp trường, nội dung đánh giá phủ rộng các mặt hoạt động của cơ sở giáo dục, tập trung nhiều vào sứ mệnh, mục tiêu, chiến lược, quản trị và quản lý của cơ sở đào tạo, đồng thời đánh giá các nguồn lực như cơ sở vật chất  trên phạm vi toàn trường. Ngược lại, đối với chương trình đào tạo, việc đánh giá tập trung sâu vào chương trình và quá trình giáo dục, do đó các nguồn lực được đánh giá cũng chỉ giới hạn trong phạm vi một chương trình. Như vậy, trong khi KĐCL cấp trường mang tính phổ quát cho nhiều loại trường thì KĐCL cấp chương trình lại tính đến sự khác biệt và tính đặc thù của mỗi chuyên ngành. Do tính chất và phạm vi của hai hình thức KĐCL này mà thông thường KĐCL cấp chương trình sẽ do các tổ chức KĐCL chuyên ngành thực hiện. Ví dụ, AACSB chuyên kiểm định các chuyên ngành Kinh doanh, Quản trị Kinh doanh hay Kế toán; ABET kiểm định các chuyên ngành như Khoa học Ứng dụng, Khoa học Máy tính, Kỹ sư và Khoa học Công nghệ; ACUP kiểm định các chương trình về Châm cứu và Đông y.

KĐCL ở nhiều nước được triển khai trên cơ sở tự nguyện, nhưng do kết quả KĐCL thường được gắn với các hình thức khuyến khích như là điều kiện để cấp ngân sách trên đầu sinh viên (ở Mỹ) và các lợi ích khác do KĐCL mang lại, nhu cầu triển khai KĐCL ngày càng tăng cao, đặc biệt ở những nước có nền giáo dục đại học chưa phát triển. Cùng với nhu cầu này là sự xuất hiện của các tổ chức kiểm định giả, và để xử lý vấn đề này, các hệ thống đều xây dựng cơ chế kiểm soát và giám sát các tổ chức kiểm định. Ví dụ ở Mỹ, Hội đồng kiểm định chất lượng giáo dục đại học Mỹ (CHEA) giám sát và công nhận các tổ chức kiểm định độc lập. Bên cạnh đó, Bộ Giáo dục Mỹ công bố danh sách các tổ chức kiểm định mà họ công nhận. Các tổ chức được công nhận chịu sự đánh giá theo chu kỳ 4 năm[1]. Tương tự, ở châu Âu, ENQA là cơ quan đảm bảo chất lượng ‘mẹ’ công nhận các đơn vị ĐBCL và KĐCL thuộc các quốc gia thành viên châu Âu nếu họ đáp ứng các tiêu chí của bộ Tiêu chuẩn và Hướng dẫn ĐBCL trong giáo dục đại học châu Âu do ENQA ban hành.

Kiểm định trường hay kiểm định chương trình?

Ở tất cả các hệ thống có sử dụng KĐCL, câu hỏi quan trọng đặt ra đối với các trường đại học và cao đẳng là sử dụng loại KĐCL nào, cấp trường hay cấp chương trình. Như phân tích ở trên, điều dễ thấy là KĐCL chương trình đào tạo không những hiệu quả hơn mà còn thiết thực và thực chất hơn. Việc triển khai đánh giá toàn bộ nhà trường quá cồng kềnh và gây nhiều mệt mỏi thì việc đánh giá chương trình khiến cho khối lượng công việc giảm đi khá nhiều. Việc đánh giá để KĐCL do vậy trở nên khả thi hơn. Hơn thế, KĐCL chương trình, xác nhận đích danh chương trình được kiểm định, giúp cho sinh viên tốt nghiệp dễ tìm được việc làm hơn, đồng thời cho phép trao đổi sinh viên, công nhận tín chỉ giữa các trường đại học. Quan sát sự phát triển của KĐCL trên thế giới cho thấy các nước có xu hướng đẩy mạnh KĐCL chương trình trong khi ít chú trọng hơn đến KĐCL cơ sở đào tạo. Một trong những nước như vậy là Hà Lan. KĐCL trường bắt buộc được triển khai ngay khi bắt đầu sử dụng KĐCL năm 2002 đã được xoá bỏ sau khi họ rà soát, đánh giá hệ thống KĐCL năm 2011. Hiện nay, chỉ có KĐCL chương trình là chính thức và bắt buộc, còn KĐCL trường chỉ là ‘thẩm định trường’ mang tính tuỳ chọn (Bảng 1).

Quy trình đánh giá để triển khai KĐCL khá phức tạp, phổ biến phải trải qua các bước như tự đánh giá, đánh giá ngoài, phản biện kết quả đánh giá và công nhận đạt chuẩn, do vậy thường rất tốn kém nguồn tài lực và nhân lực. Đối với những hệ thống còn nhiều hạn chế về nguồn lực như Việt Nam, việc lựa chọn để KĐCL chương trình đào tạo rõ ràng là mục tiêu vừa sức và thực tế hơn.

Kiểm định chất lượng quốc gia hay quốc tế?

Đối với các trường đại học và cao đẳng ở Việt Nam, câu hỏi nên KĐCL cấp quốc gia hay quốc tế cũng rất đáng quan tâm. Việc được công nhận bởi một tổ chức ngành nghề chuyên nghiệp quốc tế (tức là KĐCL quốc tế cấp chương trình) rõ ràng giúp cho chương trình đào tạo vừa tiếp cận được chuẩn nghề nghiệp trên thế giới vừa gia tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường lao động khu vực và quốc tế của sinh viên tốt nghiệp. Trong khi đó KĐCL quốc tế cấp trường không thực sự mang lại những lợi ích thiết thực cho trường và cho người học.

Trong bối cảnh giáo dục đại học Việt Nam, KĐCL cơ sở đào tạo theo tiêu chuẩn KĐCL quốc gia đã được triển khai bắt buộc và đồng loạt với tất cả các trường ĐH và CĐ trong hệ thống, việc triển khai thêm KĐCL trường bởi một tổ chức KĐCL quốc tế không phải là một lựa chọn khôn ngoan và thiết thực, thậm chí lãng phí về cả tài chính lẫn công sức. Thay vào đó, các trường nên tập trung nguồn lực vào cải tiến, nâng cao chất lượng một hoặc một vài chương trình trọng điểm để đạt KĐCL quốc tế theo chuyên ngành sẽ hiệu quả hơn và đem lại nhiều lợi ích hơn.

Kiểm định chất lượng có dẫn tới chất lượng đào tạo cao hơn?

Cho đến nay chưa có nghiên cứu hoặc báo cáo nào cho thấy KĐCL, dù cấp trường hay cấp chương trình, nghiễm nhiên dẫn tới chất lượng đào tạo cao hơn. Theo đánh giá của giới học thuật và chuyên gia nghiên cứu GDĐH trên thế giới, KĐCL chủ yếu nhằm nâng cao trách nhiệm giải trình (accountability) của các trường hơn là đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục (quality improvement). Có thể thấy từ định nghĩa của KĐCL, bộ tiêu chuẩn KĐCL do các tổ chức KĐCL đặt ra chỉ là các chuẩn tối thiểu đối với cơ sở và chương trình đào tạo, không phải là tiêu chí, tiêu chuẩn để đạt sự xuất sắc (excellence). van-hoa-chat-luong-1425876185765Ngoài ra, còn rất nhiều những chỉ trích xoáy vào việc triển khai KĐCL, ví dụ, cách tiếp cận KĐCL khiến người ta chỉ chú tâm đến kết quả kiểm định chất lượng; kiểm định chất lượng tạo ra văn hoá đối phó, bất lợi cho cải tiến chất lượng về lâu dài; KĐCL gây ra quan liêu giấy tờ. Ngoài ra, độ tin cậy của những minh chứng được sử dụng cho KĐCL và độ tin cậy của các phương pháp điều tra thông tin phục vụ KĐCL như phỏng vấn cũng nằm trong những tồn tại của KĐCL.

Kiểm định chất lượng với khâu quan trọng nhất là đánh giá ngoài được thực hiện chủ yếu dựa trên đánh giá hồ sơ, báo cáo của cơ sở đào tạo về trường hoặc về chương trình đào tạo, tiếp theo là đợt đánh giá ngoài tại trường kéo dài 2 đến 3 ngày chắc chắn không thể giúp đánh giá được chất lượng đào tạo của trường hoặc chương trình xét về khía cạnh sản phẩm đầu ra và năng lực của người học, cũng không đánh giá được quá trình hoặc thực hành giảng dạy trên thực tế. KĐCL về cơ bản chỉ có thể đánh giá được các điều kiện quan trọng cần có để có thể triển khai chương trình đào tạo hoặc vận hành cơ sở đào tạo ở mức tối thiểu, và mức độ đạt được các kết quả nghiên cứu, đào tạo trên thực tế so với mục tiêu. KĐCL rõ ràng không phải là phương thuốc thần kỳ để khắc phục hay cứu chữa những yếu kém về chất lượng giáo dục ở bất cứ hệ thống nào.

Kiểm định chất lượng của HCERES và đẳng cấp, chất lượng châu Âu

Việc kiểm định chất lượng cơ sở đào tạo bởi Hội đồng cấp cao về Đánh giá Nghiên cứu và Giáo dục đại học – HCERES – của Pháp đối với 4 trường đại học gồm Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Bách khoa Đà Nẵng, Đại học Bách khoa TP Hồ Chí Minh, và Đại học Xây dựng Hà Nội, nằm trong khuôn khổ triển khai thoả thuận hợp tác giữa chính phủ hai nước Pháp và Việt Nam năm 2016[2]. Xin được lưu ý rằng thông thường kiểm định chất lượng là hoạt động xuất phát từ nhu cầu đảm bảo chất lượng của cơ sở đào tạo, chứ không phải là từ quan hệ hợp tác cấp nhà nước. Bốn trường được kiểm định cũng đồng thời là các trường tham gia chương trình PFIEV Đào tạo kỹ sư chất lượng cao tại Việt Nam[3] và các chương trình này đều đã được KĐCL cấp chương trình của Uỷ ban Bằng Kỹ sư Pháp CTI. Đây là đánh giá và kiểm định chương trình theo chuyên ngành và với việc đạt kiểm định của CTI, bằng tốt nghiệp các chương trình này được cho là được công nhận ở thị trường lao động Pháp.

HCERES là cơ quan hành chính độc lập được thành lập năm 2013 với chức năng đánh giá các cơ sở giáo dục đại học, các tổ chức nghiên cứu khoa học, các tổ chức hợp tác nghiên cứu và cơ quan nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp. Cơ quan này cũng tiến hành đánh giá và kiểm định các cơ sở đào tạo của nước ngoài hoặc của Pháp tại nước ngoài. Để triển khai đánh giá này, HCERES phát triển hai bộ tiêu chuẩn để đánh giá hai đối tượng là chương trình và cơ sở đào tạo. Cả hai bộ tiêu chuẩn này đều chứa đựng các tiêu chí theo yêu cầu của Hiệp hội Đảm bảo Chất lượng Giáo dục Đại học châu Âu – ENQA, và được ENQA công nhận là thành viên của Hiệp hội.

KĐCL cấp trường của HCERES đánh giá cái gì?

Thuật ngữ ‘Chất lượng giáo dục’ trong lĩnh vực đảm bảo chất lượng giáo dục có nhiều định nghĩa khác nhau. Để phù hợp với các bối cảnh giáo dục đa dạng, định nghĩa phổ biến nhất được sử dụng bởi các tổ chức ĐBCL và KĐCL là “sự phù hợp với mục tiêu” (fitness for purpose). Theo tiêu chuẩn kiểm định chất lượng trường của HCERES, các mảng hoạt động của trường đại học được đánh giá bao gồm: Chiến lược và quản trị nhà trường; Nghiên cứu và Giảng dạy; Phát triển hướng nghiệp cho người học; Đối ngoại; Quản lý; và Chất lượng và Đạo đức. ewDGhXY2_400x400Như vậy, cần phải hiểu rằng chiến lược phát triển, mô hình và cách thức quản lý, quản trị, hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, đối ngoại, các chính sách đối với người học, vv, của nhà trường phải phù hợp với sứ mệnh, mục tiêu của trường, với định vị nhà trường trong bối cảnh cụ thể của trường và phải góp phần hiện thực hoá các mục tiêu này. Cụ thể, tiêu chuẩn 1, 2 và 3 của nhóm tiêu chí 1 về Chiến lược và Quản trị nêu rõ yêu cầu cơ sở đào tạo phải (1) xác định rõ sứ mệnh của mình, (2) phải tự định vị trong bối cảnh trong nước và quốc tế của trường, và (3) phải xây dựng chiến lược phù hợp với sứ mệnh và bối cảnh đó. Các nhóm tiêu chuẩn, tiêu chí khác có cách tiếp cận tương tự.

Như vậy, nếu một trường đại học được chứng nhận KĐCL của HCERES không đồng nghĩa mức phát triển, chất lượng hay bất cứ khía cạnh nào trong hoạt động và kết quả của nó tương đương với các trường đại học ở châu Âu hay các trường đại học khác cũng do HCERES kiểm định, đơn giản bởi vì cơ sở đào tạo không được đánh giá theo các chỉ số giáo dục của châu Âu.

Lời kết

Kiểm định chất lượng chỉ đơn giản là một công cụ quản lý nhà nước đối với giáo dục đại học đánh giá mức độ đáp ứng hoặc tuân thủ các yêu cầu do một tổ chức đặt ra. Triển khai KĐCL không đương nhiên dẫn tới sự nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. KĐCL được cho là có thể đem lại nhiều ‘điều cần học’ đối với các cơ sở đào tạo trong chu kỳ kiểm định đầu tiên, nhưng cũng đồng thời có thể gây ra văn hoá đối phó, thúc đẩy việc làm giả thông tin, minh chứng. Điều cốt lõi và giá trị của KĐCL không nằm ở tấm chứng chỉ hay dấu chứng nhận đạt KĐCL. Nếu như KĐCL có thể san bằng đẳng cấp của các trường đại học, thế giới đã không chỉ có một đại học Harvard.  Cần nhớ rằng thế giới đã triển khai KĐCL và ‘mua’ KĐCL quốc tế  từ rất lâu trước khi Việt Nam bắt đầu làm kiểm định AUN-QA.

 

Bảng 1: So sánh một số hệ thống KĐCL

KĐCL của Mỹ KĐCL của Australia KĐCL của Hà Lan
Số CSGDĐH thuộc phạm vi KĐCL (có cấp bằng) 4599[5] 42+[6] 60[7]
Số cơ quan KĐCL 62[8] 1 (TEQSA) 1 (NVAO[9])
Cơ quan chủ quản Hiệp hội của các trường ĐH&CĐHiệp hội nghề nghiệp Thuộc Bộ Giáo dục, do Chính phủ thành lập Do Chính phủ Hà Lan và vùng Flanders thành lập
Nguyên tắc KĐCL Độc lậpTự điều chỉnhTự nguyệnĐánh giá đồng cấpCải tiến liên tục Độc lậpBắt buộcPhân cấp theo mức độ rủi roCải tiến chất lượng Độc lậpTuỳ chọn (thẩm định trường)Bắt buộc (KĐCL CTĐT)Cải tiến liên tục
Quy trình 1.Đăng ký à 2.Tự đánh giá à 3.Đánh giá ngoài à 4.Phản biện kết quả đánh giá à 5.Quyết định KĐCL 1.Gửi đơn đề nghị + cung cấp minh chứng à 2.Đánh giá ngoài à 3.Phản biện kết quả à 4.Quyết định KĐCL 1.Tự đánh giá à 2.Đánh giá ngoài à 3.Kiểm định à 4.Quyết định + Báo cáo KĐCL
Công cụ giao dịch Thư tín thông thường và email Trực tuyến (qua cổng thông tin dành cho CSĐT) Thư tín thông thường và email
Đối tượng KĐCL CSĐT và CTĐT CSĐT và CTĐT CTĐT[10]

Nguồn: Tổng hợp từ nhiều nguồn dưới đây.

  1. Trung tâm Thống kê Giáo dục Quốc gia Mỹ (National Center for Education Statistics). http://nces.ed.gov/programs/digest/d12/tables/dt12_005.asp
  2. Hội đồng Kiểm định Chất lượng Giáo dục Đại học (Mỹ) http://www.chea.org/Almanac%20Online/index.asp#roman1
  3. http://www.expatica.com/nl/education/higher_education/Higher-education-in-the-Netherlands_16412.html
  4. http://www.australianuniversities.com.au/list/
  5. Cơ quan Kiểm định chất lượng Hà Lan. http://nvao.com/three_steps_of_accreditation

 

Danh mục Tài liệu tham khảo

Alderman, G., & Brown, R. (2005). Can Quality Assurance Survive the Market? Accreditation and Audit at the Crossroads. Higher Education Quarterly, 59(4), 313-328. doi:10.1111/j.1468-2273.2005.00300.x

Barak, R. J., & Kniker, C. R. (2002). Benchmarking by State Higher Education Boards. New Directions for Higher Education(118), 93-102.

Billing, D. (2004). International comparisons and trends in external quality assurance of higher education: Commonality or diversity? Higher Education, 47(1), 113-137. doi:10.1023/B:HIGH.0000009804.31230.5e

Charles, C. B. (2007). The evolution of Quality Assurance in Higher Education. Faculty Working Papers from the School of Education, Paper 13. Retrieved from http://digitalcommons.uncfsu.edu/soe_faculty_wp/13/

Dixon, D. (n.d.). TEQSA, the AQF and the regulatory threat to Australian legal education. Retrieved from http://www.law.unsw.edu.au/sites/law.unsw.edu.au/files/docs/teqsa_and_the_regulatory_threat_to_australian_legal_education.pdf

Eaton, J. S. (2008). The future of accreditation. Inside Higher ED. Retrieved from http://www.insidehighered.com/views/2008/03/24/eaton

El-Khawas, E. (2001). Accreditation in the USA: Origins, Developments and Future Prospects. Retrieved from Paris: http://unesdoc.unesco.org/images/0012/001292/129295e.pdf

Harvey, L., & Williams, J. (2010). Fifteen Years of Quality in Higher Education. Quality in Higher Education, 16(1), 3-36. doi:10.1080/13538321003679457

Hazelkorn, E. (2009). The emperor has no clothe? Rankings and the shift from quality assurance to world-class excellence. Paper presented at the Trends in Higher Education, Budapest, Hungary.

Kells, H. R. (1992). Self-Regulation in Higher Education. A Multi-National Perspective on Collaborative Systems of Quality Assurance and Control. Higher Education Policy Series 15.

Maassen, P. A. M. (1997). Quality in European higher education: recent trends and their historical backgrounds. , 32(2), 111. European Journal of Education, 32(2), 111-127.

Newton, J. (2010). A Tale of Two “Qualitys”: Reflections on the Quality Revolution in Higher Education. Quality in Higher Education, 16(1), 51-53.

Phillips, D. S. (2015). 2015 Accreditation Policy Recommendations. National Advisory Committee on Institutional Quality and Integrity (NACIQI) Retrieved from http://www2.ed.gov/about/bdscomm/list/naciqi-dir/2015-spring/naciqi-finalpolrecom-jul222015.pdf.

Redden, E. (2013). Accreditors Without Borders. Inside Higher ED. Retrieved from http://www.insidehighered.com/news/2013/04/03/us-accreditors-expand-their-activities-overseas – sthash.A6SvWrq7.dpbs

Scheele, K. (2004). Licence to kill: about accreditation issues and James Bond [1]. Quality in Higher Education, 10(3), 285-293. doi:10.1080/1353832042000299934

Segrera, F. L. (2010). Trends and Innovations in Higher Education Reforms: Worldwide, Latin America and in the Carribean. Retrieved from http://cshe.berkeley.edu/publications/publications.php?id=364

Sidhu, R. (2008). Risky Custodians of Trust: Instruments of Quality in Higher Education. International Education Journal: Comparative Perspectives, 9(1), 69-84.

Studley, J. S. (2012). 2012 Accreditation Policy Recommendations. National Advisory Committee on Institutional Quality and Integrity (NACIQI) Retrieved from http://www2.ed.gov/about/bdscomm/list/naciqi-dir/2012-spring/teleconference-2012/naciqi-final-report.pdf.

Vlăsceanu, L., Grunberg, L., & şiPârlea, D. (2007). Quality Assurance and Accreditation: A glossary of basic terms and definitions (2nd ed.). Bucharest: UNESCO-CEPES.

 

[1] https://nces.ed.gov/pubs98/98300av2.pdf

[2] http://www.dut.udn.vn/Phong/Khaothi/Thongbao/id/433

[3] https://vn.ambafrance.org/Chuong-trinh-dao-tao-ky-su-chat-3687

[4] http://www.hceres.com/Agency/International-work

[5] Gồm các trường đại học và cao đẳng có cấp bằng nằm trong nhóm mục IV thuộc Luật Giáo dục Đại học Mỹ năm 1965, thuộc phạm vi điều chỉnh của chương trình hỗ trợ tài chính cho sinh viên của Chính phủ Liên bang Mỹ.

[6] Gồm 39 trường công lập, 2 trường quốc tế và 1 trường tư; Có một số ít trường cao đẳng được cấp bằng và thuộc phạm vi KĐCL. Hà Lan có 13 trường đại học (WO) và 43 trường cao đẳng và dạy nghề (HBO) có cấp bằng và được kiểm định chất lượng.

[7] Gồm 18 trường ĐH nghiên cứu và 42 trường ĐH ứng dụng.

[8] Là những tổ chức KĐCL được công nhận, bao gồm 6 tổ chức KĐCL vùng. Ngoài ra còn có những tổ chức KĐCL giả, không được công nhận.

[9] Thành lập năm 2002. Hiện nay Chính quyền Flanders (vùng đất nói tiếng Hà Lan thuộc Bỉ) đã xây dựng hệ thống KĐCL riêng.

[10] Hệ thống KĐCL của Hà Lan được điều chỉnh năm 2011, theo đó KĐCL trường, được triển khai từ 2002, đã được xoá bỏ, thay vào đó là thẩm định chất lượng. Hệ thống KĐCL chỉ còn triển khai KĐCL CTĐT.

Leave a Reply

*

captcha *