logo



06
THáNG 6
2014

Tinh thần cộng sự trong môi trường học thuật: Một Phân tích So sánh dựa trên Quan sát và Kinh nghiệm

11 - Tieu de-06

Phạm Thị Ly

 

          Tóm tắt

          Tinh thần cộng sự là một khái niệm trọng yếu trong văn hóa học thuật ở các trường đại học phương Tây, nhưng chưa được nghiên cứu đầy đủ trong bối cảnh môi trường học thuật ở Việt Nam. Trên con đường đạt đến các chuẩn mực quốc tế của các trường đại học Việt Nam, không chỉ những tiêu chuẩn học thuật có vai trò quan trọng, mà quan hệ đồng nghiệp và cộng sự diễn ra trong việc quản trị trường đại học cũng như trong hợp tác nghiên cứu và giảng dạy cũng hết sức quan trọng. Bài viết này trình bày một phân tích so sánh về vấn đề tinh thần cộng sự trong môi trường học thuật dựa trên kinh nghiệm và quan sát của tác giả. Bài viết tập trung vào những xu hướng hiện tại và ý tưởng về việc đẩy mạnh tinh thần cộng sự trong kỷ nguyên của hội nhập quốc tế.  Tác giả cho rằng tinh thần cộng sự là một lý tưởng rất được khâm phục nhưng cũng khó mà bắt buộc thực hiện, kể cả ở những nước đã có một truyền thống văn hóa học thuật trưởng thành như Hoa Kỳ.  Cơ chế xã hội, chính trị và văn hóa, truyền thống học thuật và  mô hình quản lý hiện đại đều có liên quan tới tinh thần cộng sự. Bài viết cũng chứng minh rằng,  ở Việt Nam, cũng như nhiều nơi khác, tinh thần cộng sự giữa các nhà khoa học trong nước và các đồng sự ở nước ngoài đã dẫn đến một kết quả hoạt động khoa học tốt hơn nhiều.  Bài viết kết luận rằng đẩy mạnh tinh thần cộng sự giữa cá nhân các nhà khoa học, cũng như giữa các trường đại học, các viện nghiên cứu là một nhân tố hết sức cốt yếu trong việc phục vụ mục đích chung của giáo dục đại học trong thời hội nhập toàn cầu.

          Đặt vấn đề

          Tinh thần cộng sự là một thứ quyền lực mềm tác động đến hiệu quả hoạt động của các trường đại học và viện nghiên cứu qua vai trò của nó trong quá trình ra quyết định và kiến tạo tri thức mới. Tinh thần cộng sự có ảnh hưởng đến cả hoạt động quản trị đại học lẫn hoạt động học thuật. Khái niệm này được định hình và biểu hiện khác nhau trong những bối cảnh văn hóa và chính trị – xã hội khác nhau. Bởi vậy rất đáng để nghiên cứu thực tiễn của tinh thần cộng sự trong những môi trường khác nhau thông qua một phân tích so sánh. Là người đã làm việc nhiều năm trong môi trường học thuật, các tác giả bài viết này đã cố gắng đặt những quan sát và kinh nghiệm của họ trong những bối cảnh xã hội khác nhau lại cùng nhau nhằm góp phần đem lại một nhận thức xác thực về thực tiễn của tinh thần cộng sự, tập trung vào những xu hướng hiện nay và làm cách nào đẩy mạnh phát triển tinh thần cộng sự trong thời đại hội nhập toàn cầu. Chúng tôi cố gắng miêu tả khái niệm “tinh thần cộng sự” qua một định nghĩa xuất phát trên hai lĩnh vực: quản trị đại học và hợp tác trong hoạt động học thuật. Bài viết này sẽ trình bày một số quan sát về biểu hiện của tinh thần cộng sự trên hai lĩnh vực này.

          Tổng thuật[1]

          Phần này trình bày những công trình nghiên cứu và tri thức gần đây phản ánh những chủ đề về tinh thần cộng sự được thảo luận trong bài viết này.  Một bài gần đây trên tập san Giáo dục Đại học, “Như Thế Nào và Tại Sao về Hợp tác trong Hoạt động Học thuật: Khác biệt trong các Chuyên ngành và Ý nghĩa đối với Chính sách”  đã bàn về một hiện tượng: hầu hết các quỹ tài trợ cho nghiên cứu đều có xu hướng thiên về ưu ái cho tinh thần cộng sự dưới hình thức hợp tác giữa các nhà nghiên cứu; đây là một mô hình trong các điều kiện hiện nay đã vô hình trung thiên vị khoa học tự nhiên và khoa học xã hội hơn là các ngành nghệ thuật và khoa học nhân văn. Bài viết này đã trình bày kết quả phỏng vấn các nhà nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực chuyên ngành khác nhau về những công trình nghiên cứu hợp tác của họ và xem xét làm thế nào để các loại khích lệ có thể phù hợp hơn với thực tế và đem lại kết quả lý tưởng.

          e 3Một số nghiên cứu hay nhất gần đây về tinh thần cộng sự được công bố trong một số đặc biệt năm 2005 của một tập san lý thuyết xuyên ngành có tên Symploke do Nhà xuất bản University of Nebraska ấn hành. Trong bài “Bóng ma của tinh thần cộng sự”, Terry Caesar đã đề cập mối nguy muôn thuở của tinh thần cộng sự trong một hệ thống đòi hỏi sự đồng thuận và cố kết, tuy nhấn mạnh vai trò tích cực của tinh thần cộng sự trong việc duy trì không khí lịch sự nhã nhặn trong  chuyên môn và ở nơi làm việc. Caesar cũng trình bày sự phức tạp của vấn đề tinh thần cộng sự xét về mặt xã hội trong một hệ thống học thuật mà các giảng viên có biên chế và đang trong quá trình chờ xét biên chế nắm giữ những vị trí đặc quyền trong tổ chức so với các giảng viên hợp đồng. Trong bài “Vấn đề Tinh thần Cộng sự, Tính Tập thể, và Giới”, trong cùng tuyển tập nói trên, Judith Kegan Gardiner liên hệ kinh nghiệm của bản thân bà trong việc vận dụng mô hình tập thể và tự nguyện với lý tưởng của chủ nghĩa nữ quyền trong nỗ lực duy trì và đẩy mạnh tinh thần cộng sự ở nơi làm việc, cũng như trong hoạt động nghề nghiệp khi giới học thuật phải đương đầu với chủ nghĩa quản lý theo thứ bậc rất quan liêu và ngày càng giống doanh nghiệp của các trường đại học.

          Một đồng nghiệp của Gardiner là David B. Downing đã đề cập đến mô hình doanh nghiệp trong giới học thuật trong bài viết “Tự do Học thuật Như Một Tài sản Trí tuệ: Khi Tinh thần Cộng sự Đương Đầu với Phong trào Tiêu chuẩn hóa”. Downing cho rằng tinh thần cộng sự trong giới học thuật theo truyền thống ngụ ý quyền sở hữu tri thức được chia sẻ vì lợi ích công; và tự do học thuật được xem là thiết yếu trong việc tìm kiếm tri thức mới, thách thức tri thức đã có, và đóng góp cho kho tàng tri thức chung.  Tuy vậy, ông cho rằng hệ thống  biến kiến thức thành ra các sản phẩm trí tuệ khả mại trong thị trường tư bản ngày nay sẽ đặt cả tinh thần cộng sự lẫn khái niệm liên quan với nó là tự do học thuật vào một tình thế bị đe dọa.  Downing cảnh báo rằng tự do học thuật sẽ bị tước đi và tinh thần cộng sự sẽ trở thành đơn thuần là chủ nghĩa tuân phục trong một hệ thống mà giới khoa học bị coi là kẻ làm thuê có bổn phận sản xuất ra các loại hàng hóa trí tuệ dùng để bán nhằm mang lại lợi nhuận cho ông chủ của nhà trường trong thị trường tư bản chủ nghĩa. Luận điểm này đặc biệt thích đáng trong môi trường đại học đang khó khăn về tài chính hiện nay, trong đó các trường ĐH đang nhanh chóng thay thế lối dạy mặt giáp mặt bằng dạy học từ xa. Những giáo trình dạy thông qua lối từ xa như thế thường được coi là tài sản của nhà trường thay vì là tài sản của vị giáo sư đã tạo ra nó. Tinh thần cộng sự trong một thị trường GDĐH thống trị bởi các chương trình học thuộc sở hữu nhà trường như thế sẽ nhanh chóng trở thành một khái niệm và giá trị cổ lỗ sĩ, một ý tưởng đáng cảnh báo cho những ai đánh giá cao sự tự do tạo điều kiện cho những nỗ lực trí tuệ trong một xã hội của những cá nhân với sự tự chủ và tự trọng cao.

          Khái niệm tinh thần cộng sự và các xu hướng ở Hoa Kỳ

          Tinh thần cộng sự trong GDĐH Hoa Kỳ là một khái niệm có tính sống còn nhưng lại khá mơ hồ. Từ điển Bách khoa Toàn thư mở, bản thân nó vốn đã là một nỗ lực tiêu biểu cho tinh thần cộng sự cao quý và đáng ca ngợi, định nghĩa ý tưởng về người đồng sự như sau: “Đồng sự là những người thống nhất rõ ràng về một mục đích chung và tôn trọng khả năng của nhau trong việc cùng làm việc vì mục đích chung ấy”. Từ “người đồng sự” (colleague) vốn có nghĩa “người được chọn để làm việc cùng với người khác”[2]. Trong một bài viết sâu sắc năm 2005, “Cộng đồng và tinh thần cộng sự”, nhà quản lý đại học Mỹ Joseph R. Urgo đã quan sát thấy rằng trong khi bổn phận của các nhà quản lý GDĐH là phải làm việc có kết quả cao với những người có tính cách khác nhau, thì các giảng viên làm việc chủ yếu với ý tưởng, bổn phận của họ không phải là đóng góp cho sự vui vẻ hay thậm chí hài lòng của ai khác, mà là cho việc tạo ra tri thức mới”. Lý tưởng của tinh thần cộng sự giữa các giảng viên, theo Urgo, nghĩa là bảo đảm rằng mỗi giảng viên, từng người một, trong khi gắn bó một cách chủ yếu và chính đáng với con đường tìm kiếm tri thức của riêng họ, thì cũng sẽ phấn đấu làm việc cùng nhau trong mọi cơ hội để phục vụ mục đích chung của giáo dục ĐH.

2Trong thực tế, tinh thần cộng sự là điều dễ được mọi người tán đồng nhưng thật khó mà bắt buộc họ thực hiện. Thực ra khái niệm bắt buộc thi hành là rất kỳ cục với lý tưởng cùng chia sẻ trách nhiệm của tinh thần cộng sự. Các giáo sư Mỹ nói chung được xét biên chế và bổ nhiệm dựa vào ba tiêu chí: nghiên cứu, giảng dạy, và phục vụ cộng đồng. Vì một giáo sư có thể là một nhà nghiên cứu và thầy giáo giỏi mà không hề là một đồng nghiệp tử tế, lý tưởng về tinh thần cộng sự thường được xem xét theo tiêu chí phục vụ cho khoa và cho trường. Tinh thần cộng sự thường không phải là một tiêu chí riêng để xét biên chế hay bổ nhiệm và có những lý do chính đáng để không làm vậy, vì nó có thể được dùng để thúc ép một giảng viên phải thuận theo số đông khi người ấy có bất đồng trong một hay nhiều vấn đề cụ thể và/hoặc phải qui phục ý muốn và ý chí của một người cấp trên không biết cảm thông.

          Khái niệm tinh thần cộng sự hàm nghĩa rằng những người đồng nghiệp này có một vai trò và tầm quan trọng bình đẳng như nhau trong việc ra quyết định, nhưng trong GDĐH Hoa Kỳ hiện đại, ngày càng ít thấy điều đó. Trong mấy thập kỷ trước đây, các khoa theo truyền thống thường bao gồm toàn bộ các giáo sư đã có biên chế hoặc đang trong quy trình chờ xét duyệt biên chế chính thức. Nhưng trong khi nỗ lực tăng hiệu quả và giảm chi phí, các trường ĐH những năm gần đây đã tuyển dụng nhiều giảng viên hợp đồng hơn, những người giảng dạy toàn thời gian và không có nghĩa vụ nghiên cứu hay phục vụ. Điều này xảy ra ngay cả ở những trường đại học nghiên cứu rất có uy tín và danh tiếng. Đối với quá trình ra quyết định trong việc quản lý ở cấp khoa, những giảng viên này là công dân hạng hai, những người không được phép biểu quyết về những vấn đề quản trị của nhà trường, không được phép tham gia vào quy trình tuyển dụng hay đề bạt. Tinh thần cộng sự ở cấp khoa trong một bầu không khí như thế dĩ nhiên là bị hủy hoại, vì các giáo sư có biên chế hoặc trong quá trình xét biên chế, những người có sự an toàn tương đối về chỗ làm, được tự do nói lên ý nghĩ của mình và tham gia vào việc vận hành nhà trường, trong lúc những giảng viên chỉ được ký hợp đồng từng năm thì bị cản trở và rụt rè khi làm điều đó.

          Một xu hướng khác trong GDĐH Hoa Kỳ đã đi ngược lại lý tưởng của tinh thần cộng sự là các trường ngày càng dựa vào “mô hình doanh nghiệp” nhiều hơn trong việc tổ chức, hành chính và giám sát. Theo truyền thống thì trưởng khoa là “người thứ nhất trong số những người được coi như bình đẳng” trong khoa, và một điều bình thường trong nhiều thập kỷ trước là vai trò trưởng khoa được luân chuyển từ người này qua người khác trong số giảng viên đã có biên chế, để mỗi thành viên đều có nghĩa vụ phục vụ một nhiệm kỳ trưởng khoa, hết nhiệm kỳ thì tự động chuyển sang cho người khác. Tuy nhiên, trong các trường đại học Hoa Kỳ ngày nay, rất hiếm thấy mô hình quản lý này. Thay vào đó, trưởng khoa, hay trưởng bộ môn thường là sẽ được cấp trên trực tiếp của mình lựa chọn, rồi người cấp trên này lại được lựa chọn bởi cấp trên của họ, phó hiệu trưởng phụ trách đào tạo, là người phục vụ sao cho ông hiệu trưởng được hài lòng, và ông hiệu trưởng thì được hội đồng trường tuyển dụng, một hội đồng mà thành viên hầu hết là người trong giới doanh nghiệp. Trong một số trường đại học công lập, các khoa vẫn bầu chọn trưởng khoa, nhưng kết quả bầu cử chỉ là tham khảo cho hiệu trưởng, là người không có nghĩa vụ phải tuân thủ ý muốn của khoa xét về mặt quan hệ lãnh đạo.

          Xu hướng gần đây của phái bảo thủ trong chính trị Hoa Kỳ là xem xét lại khái niệm biên chế như một sự an toàn chỗ làm trong hệ thống giáo dục công. Các nhà lập pháp bảo thủ ở bang Florida chẳng hạn, gần đây đã bãi bỏ biên chế giáo viên ở cấp tiểu học và trung học, và thông báo rằng nó sẽ sớm được áp dụng cho đại học trong năm tới. (Loại bỏ chế độ biên chế ở các trường đại học công sẽ là một bước khốc liệt hơn nhiều, vì các tổ chức kiểm định vùng hoặc kiểm định quốc gia thường đòi hỏi biên chế như một điều kiện của kiểm định). Một bầu không khí trong đó tất cả mọi giảng viên đều là những người ký hợp đồng một năm sẽ là một bầu không khí thù địch chống đối với tinh thần cộng sự vì cốt lõi của tinh thần cộng sự là cùng chia sẻ việc quản trị và ra quyết định. Thậm chí có thể nhận thấy rằng tinh thần cộng sự sẽ trở thành một thứ tiếng lóng có tính nhạo báng ám chỉ việc bắt giảng viên tuân phục những người có thẩm quyền quản lý.

          Tất nhiên trong hệ thống biên chế hiện nay, những người có biên chế đôi khi cũng tự cho phép mình có cách xử sự chẳng hề có tinh thần cộng sự với đồng nghiệp về những thứ mà họ hiếm khi bị cấp trên quở trách. Nói một cách lý tưởng thì tinh thần cộng sự không chỉ là thực hiện phần việc của mình trong việc vận hành một khoa hay một trường ĐH, mà còn là tôn trọng vai trò của người khác khi họ làm phần việc của họ, trong đó có những người mà nền tảng của họ rất khác với mình. Khi phụ nữ bắt đầu tham gia nhiều người hơn vào các khoa trong thập kỷ 80 và 90, một trong nhiều mối quan ngại của họ là khái niệm tinh thần cộng sự có thể được dùng như một lý do buộc họ phải đồng ý với số đông nam giới trong việc ra những quyết định tập thể . Cũng có những quan ngại tương tự khi các trường ĐH thực hiện việc làm cho đội ngũ giảng viên của mình có tính chất đại diện đầy đủ hơn cho các thành phần trong xã hội xét về phương diện sắc tộc, định hướng giới tính, và sự đa dạng về văn hóa.  Không thể lảng tránh được một điều là, để làm một người cộng sự tốt, người ta phải là một công dân tốt, và thậm chí phải là người tốt.

          Tinh thần cộng sự trong hoạt động học thuật của GDĐH Hoa Kỳ có nhiều biểu hiện khác nhau trong những lĩnh vực chuyên ngành khác nhau. Trong y khoa, khoa học tự nhiên, kỹ thuật, giáo dục và kinh doanh, việc các nhà nghiên cứu hợp tác cùng nhau theo một cách thức phức tạp và  công bố bài báo khoa học với tên nhiều tác giả là điều bình thường. Các nhà khoa học xã hội như tâm lý học, khoa học chính trị cũng có khi làm việc cùng nhau, tuy đó không phải là tiêu chuẩn thực tiễn của lĩnh vực này như là trong khoa học tự nhiên hay khoa học thực nghiệm. Trong lĩnh vực nghệ thuật và khoa học nhân văn hiếm khi các nhà nghiên cứu làm việc cùng nhau, dù rằng trong các bộ môn nghệ thuật biểu diễn như âm nhạc hay kịch nghệ thì dĩ nhiên tinh thần cộng sự là một chuẩn mực thực tế. Nói chung trong các lĩnh vực học thuật mà việc nghiên cứu có tính chất hợp tác, tinh thần cộng sự là một thứ phức tạp hơn và được quy định ở mức độ cao hơn nhiều so với những lĩnh vực mà việc nghiên cứu học thuật là một cuộc theo đuổi kiến thức của cá nhân, trong những lĩnh vực này tinh thần cộng sự được nói đến chủ yếu như là cách xử sự giữa người với người ở nơi làm việc.

          Tinh thần cộng sự trong môi trường học thuật ở Việt Nam – Một cái nhìn từ bên trong và bên ngoài

          3Như đã nói trên, tinh thần cộng sự có ngụ ý là những người đồng sự gần như có tầm quan trọng ngang nhau trong việc ra quyết định về việc quản lý nhà trường. Vấn đề là, để có thể cùng chia sẻ trách nhiệm ra quyết định trong việc vận hành nhà trường, có hai nhân tố cốt yếu: trước hết nhà trường phải có thẩm quyền quyết định những vấn đề quan trọng của chính mình; và hai là phải có những thiết chế để các bên liên quan tham gia vào quá trình ra quyết định. Nhưng trong thực tế thì cho đến nay trường ĐH Việt Nam vẫn có rất ít quyền tự chủ. Ở các trường công lập, mức phân bổ tài chính, mức thu học phí, nhân sự cấp cao, chương trình khung, đều là thẩm quyền của Bộ chủ quản. Trường ngoài công lập có mức độ tự chủ cao  hơn tuy vẫn phải tuân thủ nhiều quy định rất chi tiết của Bộ GD-ĐT. Nhân tố thứ hai là cơ chế đồng quản trị cho phép các bên liên quan  tham gia vào quá trình ra quyết định. Cơ chế đó có thể là hội đồng trường, hội đồng giảng viên, v.v. Những tổ chức như thế không bảo đảm cho việc thực hiện tinh thần cộng sự trong quản trị nhưng ở một mức độ nào đó nó giúp tránh sự chuyên quyền. Một điều rất đáng tiếc là cho đến nay, những thiết chế như vậy vẫn chưa phải là thực tiễn phổ biến ở Việt Nam.

           Trong thực tế, Việt Nam có một truyền thống lâu dài về mô hình “làm chủ tập thể”, tuy rằng trong thực tế thì “làm chủ tập thể” ở Việt Nam rất khác với khái niệm “đồng quản trị” trong các trường ĐH Hoa Kỳ.  Ở Việt Nam có câu “Cha chung không ai khóc” để phản ánh tình trạng không ai chịu trách nhiệm bởi vì họ không phải là người duy nhất ra quyết định. Xã hội Việt Nam đã trải nghiệm tình trạng này trong thập kỷ 60 đến 80 cho đến khi chuyển sang mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN. Cả hai cấu trúc này đều tác động mạnh mẽ đến quá trình ra quyết định hiện nay ở trường đại học theo những cách khác nhau.

          “ Quyền làm chủ tập thể” trong thực tế không có nghĩa là quyền ra quyết định ngang nhau giữa các thành viên của nhà trường. Thay vì vậy, nó chủ yếu là cách để lảng tránh trách nhiệm cá nhân về việc ra quyết định.  Việc chuyển từ cơ chế kế hoạch tập trung và kiểu quản lý “làm chủ tập thể” sang kinh tế thị trường định hướng XHCN có làm thay đổi tinh thần cộng sự trong các trường ĐH Việt Nam hay không, và như thế nào? Nếu như tình hình tài chính khó khăn trong khủng hoảng kinh tế và việc chuyển sang mô hình quản trị theo kiểu doanh nghiệp đã tác động sâu sắc đến lý tưởng về tinh thần cộng sự trong nhà trường Hoa Kỳ, thì ở Việt Nam những tác động này khó thấy hơn. Kết quả nổi bật nhất của việc chuyển sang kinh tế thị trường là sự ra đời bộ phận GDĐH ngoài công lập. Nhưng những thay đổi trong trường ĐH Việt Nam, từ thập niên 90 đến nay luôn chậm hơn so với những thay đổi ngoài xã hội. Cách quản lý mà Bộ GD-ĐT áp đặt lên các trường hiện nay không có những khác biệt về bản chất so với mấy thập niên trước: vẫn là tư duy kiểm soát và mức độ kiểm soát dường như cũng không mấy thay đổi. Tuy nhiên, sự hình thành bộ phận các trường ngoài công lập đã tạo ra một môi trường học thuật rất khác biệt so với các trường công lập. Mặc dù đại bộ phận giảng viên của các trường ngoài công lập đều xuất thân từ các trường công lập, thậm chí đang là giảng viên của các trường công lập, các trường ngoài công lập vẫn đang vận hành với những nguyên tắc và động lực hoàn toàn khác so với các trường công lập: họ bị chi phối ít hơn bởi Bộ GD-ĐT và nhiều hơn bởi sự lựa chọn của người học, tức là của thị trường; cách quản lý của họ mang tính chất doanh nghiệp nhiều hơn. Như Downing đã nói, trong mô hình quản lý ấy, giới giảng viên được xem là người làm thuê, và thật là khó mà nói đến việc tham gia vào quá trình ra quyết định của nhà trường trong bối cảnh ấy, kể cả những quyết định chỉ trong lĩnh vực chuyên môn.

          Vì vậy, trong bối cảnh các trường ĐH Việt Nam vẫn chưa có các thiết chế trao quyền để giảng viên, nhân viên thực sự tham gia vào quá trình ra quyết định  như đã nói trên, và bản thân nhà trường cũng có mức độ tự chủ rất thấp, thì có thể nói, có rất ít không gian cho tinh thần cộng sự có thể nảy nở và phát triển.

          Một nhân tố khác cũng không kém phần quan trọng tác động đến sự phát triển và trưởng thành của tinh thần cộng sự là truyền thống văn hóa. Kiểu văn hóa tổ chức phổ biến ở các trường đại học Việt Nam là văn hóa thứ bậc kết hợp với văn hóa thân tộc, trong đó sự bình đẳng tuyệt nhiên không phải là yếu tố nổi trội. Điều này có cội nguồn từ văn hóa nông nghiệp đã có lịch sử hàng ngàn năm ở Việt Nam, trong nền văn hóa đó đơn vị quan trọng nhất cả về mặt tổ chức sản xuất và về mặt văn hóa cấu thành xã hội chính là gia đình, chứ không phải là cá nhân. Người Việt Nam gắn kết với nhau trên cơ sở gia đình họ tộc chứ không phải trên cơ sở những cá nhân gắn kết với nhau với tư cách là những công dân của xã hội. Chính vì thế mà sự cố kết giữa các cá nhân ngoài phạm vi gia đình họ tộc là rất lỏng lẻo.  Cách đây gần 100 năm, Phan Bội Châu từng nhận xét về tính cách người Việt:

 Người ngoại quốc coi thường dân ta, họ nói rằng “không có nổi một đoàn một nhóm nào từ ba người trở lên “; câu nói đó thoạt mới nghe tưởng là quá đáng, nhưng xét cho đến tình hình xã hội tinh thần dân chúng thì thấy tan tan tác tác, rạc rạc rời rời, ghét nhau, ngờ nhau, ai lo thân nấy, bảo rằng không có nổi một đoàn một nhóm ba người thật bụng với nhau, thật cũng chẳng oan. (Phan Bội Châu, Cao đẳng quốc dân, 1928)

          Dân gian cũng phổ biến câu nói: “Một người Việt Nam làm việc bằng ba người Nhật, ba người Việt Nam làm việc cùng nhau thì tạo ra kết quả không bằng một người Nhật”, cho thấy sự thiếu vắng tinh thần cộng sự của người Việt nghiêm trọng như thế nào. Trong một bài viết đăng trên The New York Times ngày 11.9.2012, Thomas L. Friedman cho rằng, chỉ ở những xã hội con người tin cậy nhau, người ta mới cảm thấy an tâm chia sẻ ý kiến và tư tưởng với nhau, mới sẵn sàng chấp nhận rủi ro khi mở ra một con đường mới mẻ, mới chịu hợp tác với nhau một cách tích cực và lâu dài, từ đó mới dẫn đến những sự sáng tạo bất ngờ và lớn lao[3]. Chia sẻ ý tưởng là một nội dung cốt lõi của hoạt động học thuật, vì ngày nay việc nghiên cứu khoa học đã trở nên phức tạp và ngày càng có tính chất liên ngành, khiến mọi công trình lớn đều cần phải có nhiều người tham gia.  Nếu ai cũng có tâm trạng lo sợ người khác ăn cắp ý tưởng của mình, nếu ai cũng luôn luôn sợ người khác nổi bật hơn mình, nếu họ không cùng nhìn về một mục tiêu chung, không có sự tin cậy với nhau, thì không thể có bất cứ một sự dấn thân hay cam kết trọn vẹn nào. Tình trạng mạnh ai nấy làm, với động cơ duy nhất là những lợi ích ngắn hạn trước mắt cho cá nhân mình tất yếu sẽ dẫn đến hậu quả  là người ta không thể làm được những việc lớn.

          Trong một bối cảnh văn hóa và thể chế như vậy, liệu có thể, và bằng cách nào, phát triển tinh thần cộng sự trong một tổ chức học thuật?  Tác giả bài viết này có một trải nghiệm cá nhân về vấn đề này. Trong vòng một năm phụ trách một đơn vị nhỏ của ĐHQG-HCM, một đơn vị tự chủ tài chính, được quyền quyết định về nhân sự, mức lương, và về cơ chế làm việc nội bộ, bà đã xây dựng được một tập thể nhân viên gắn bó với nhau bằng tinh thần cộng sự cao độ. Điều cốt lõi đã gắn kết những con người ấy lại với nhau, đúng như định nghĩa về tinh thần cộng sự, là sự gắn bó với cùng một mục tiêu chung và chia sẻ những giá trị chung. Mỗi người đều cảm nhận được trong những kết quả mà đơn vị mình đạt được, có sự đóng góp của mình, vì họ tham gia vào quá trình ra quyết định như những thành viên bình đẳng, và quyết định cuối cùng được đưa ra là dựa trên những lý lẽ có sức thuyết phục chứ không chủ yếu dựa trên thẩm quyền. Vì vậy, đơn vị của bà không có những người đến văn phòng chỉ nhìn đồng hồ mong đến giờ tan sở, mà là những người làm việc tự nguyện không kể giờ giấc, để đạt được mục tiêu chung. Nhờ tinh thần cộng sự, họ gắn kết với nhau như một khối thống nhất về ý chí và về tinh thần phục vụ, mỗi người không chỉ cố gắng hết sức để làm trọn phần việc của mình mà còn tôn trọng phần việc và sự đóng góp của người khác, và do đó mỗi người đều là một phần không thể thiếu của tổ chức. Chìa khóa tạo ra tinh thần cộng sự ấy, xét về mặt quản trị, là gì? Đó là sự trao quyền. Trao quyền (empowerment) là chia sẻ thông tin, cung cấp cho những người cấp dưới kỹ năng, nguồn lực, thẩm quyền, động cơ để họ thực hiện phần việc được giao, đồng thời đòi hỏi ở họ trách nhiệm giải trình đối với những quyết định, hành động, và kết quả công việc của họ.  Triết lý cơ bản của sự trao quyền là người ta làm việc tốt hơn khi hứng thú với công việc của họ, và sự hứng thú này được tạo ra khi ta được quyền quyết định những việc thuộc phạm vi của mình và thấy được quyết định của mình đã mang lại được kết quả ra sao[4].

          Trong hoạt động khoa học, tinh thần cộng sự của người Việt Nam biểu hiện như thế nào và đem lại kết quả ra sao?  Dùng ĐHQG-HCM như một trường hợp điển cứu để phân tích mức độ và ảnh hưởng của việc hợp tác trong nghiên cứu khoa học, chúng tôi nhận thấy một vài kết quả lý thú: Trong 525 bài báo khoa học của ĐHQG-HCM công bố trên các tập san quốc tế có bình duyệt và có trong danh mục ISI từ năm 2006 đến 2010, chỉ 20 bài báo là do một tác giả đứng tên, còn lại tất cả đều là sản phẩm hợp tác, trong số này, 68 bài là kết quả hợp tác của các đồng nghiệp trong nước, còn lại 437 bài là kết quả hợp tác với các đồng nghiệp nước ngoài. Một phân tích của Ly T. Pham, Tho D. Dinh, Tuan V. Nguyen (2012) cho thấy số lượng trong mỗi lĩnh vực và chất lượng của các bài báo có hợp tác quốc tế – đo lường qua chỉ số tác động và tần suất trích dẫn – đều cao hơn hẳn so với những bài không có hợp tác quốc tế.

          Ngoài ra, sự khác nhau trong cách quan niệm về tinh thần cộng sự, cũng như cách thức làm việc cùng nhau, cách xử lý những bất đồng giữa giới học thuật Việt Nam và Hoa Kỳ, chắc chắn là điều đáng lưu ý do tinh thần cộng sự là điều bị chi phối mạnh mẽ bởi cấu trúc xã hội và  cội nguồn văn hóa là những thứ vốn rất khác nhau ở hai nước.  Theo quan sát của chúng tôi,  những người trưởng thành trong văn hóa Á Đông và chịu ảnh hưởng của Khổng giáo, thì có khuynh hướng coi trọng sự đồng thuận của công chúng và sự hài hòa trong tập thể. Trong lúc đó văn hóa phương Tây coi trọng bản sắc cá nhân và sự đa dạng. Như chúng ta đã thấy ở phần trên, người ta có thể nhân danh sự đồng thuận  để tiêu diệt ý kiến cá nhân, và gọi đó là “cộng sự”, nhưng trong thực tế thì đó không phải là tinh thần cộng sự thực sự, vì tinh thần cộng sự đòi hỏi có sự chia sẻ trách nhiệm và đóng góp một cách bình đẳng vào công việc chung. Trong một xã hội như thế, áp lực văn hóa đặt ra cho sự đồng thuận dễ dàng khiến người ta từ bỏ quan điểm riêng của mình để quy phục người có thẩm quyền. Trong lúc đó người phương Tây coi trọng bản sắc và quan điểm cá nhân do đó họ đạt đến sự đồng thuận trên cơ sở của lý trí hơn là vì bị quy phục bởi sức mạnh của hệ thống thứ bậc. Đó là một đặc điểm cốt lõi của tinh thần cộng sự trong môi trường học thuật Hoa Kỳ.

          Mặt khác, cũng có thể quan sát thấy, đồng nghiệp Việt Nam thường đồng nhất quan hệ cộng sự và quan hệ bạn bè với mức độ ít nhiều khác nhau. Người ta dễ biến những bất đồng trong quan điểm và cách làm việc thành ra những bất đồng cá nhân, và ngược lại, để cho những bất đồng cá nhân chi phối tới sự hợp tác trong công việc. Câu tục ngữ “một trăm cái lý không bằng một tí cái tình” phản ánh rõ cách giải quyết công việc và quan hệ công việc rất không chuyên nghiệp của đồng nghiệp Việt Nam. Điều này không phải là không xảy ra trong môi trường học thuật phương Tây, nhưng một thực tiễn phổ biến hơn, theo nhận xét của nhiều đồng nghiệp Hoa Kỳ, là người ta có thể xung đột quan điểm dữ dội trong cuộc họp, nhưng ra khỏi phòng họp họ vẫn là những đồng nghiệp thân thiện.

          Chúng tôi chưa có điều kiện khảo sát sâu về bản chất của mối quan hệ cộng sự giữa đồng nghiệp Việt Nam với nhau, và giữa đồng nghiệp Việt Nam với các đồng nghiệp quốc tế để hiểu rõ hơn về tính chất phức tạp cũng như giới hạn và sự phát triển của các mối quan hệ ấy. Đó là đề tài cho các nghiên cứu tiếp theo của chúng tôi trong loạt bài về văn hóa học thuật và văn hóa tổ chức của nhà trường.

          Kết luận

          Tinh thần cộng sự, tự do học thuật và sự liêm chính trong học thuật là những cột trụ trong văn hóa học thuật đã làm nên thành tựu của các trường đại học phương Tây trong những thế kỷ qua. Tuy có thể được định hình khác nhau trong những bối cảnh văn hóa, lịch sử, chính trị và xã hội khác nhau như đã được đề cập ở phần trên, nhưng bản chất của những khái niệm đó không thay đổi và tác dụng của nó trong việc tạo ra thành công của một trường đại học là không thể nghi ngờ, nếu chúng ta coi trường đại học là nơi chuẩn bị cho con người những năng lực cơ bản  để tham gia vào đời sống xã hội một cách toàn vẹn nhất trong khả năng của họ. Cùng với tự do học thuật và sự liêm chính trong học thuật, tinh thần cộng sự là thứ không mua được bằng tiền, không vay mượn hay lắp đặt được, cũng không phải là thứ có thể hình thành qua một đêm, nhưng là những nhân tố không thể thiếu của đời sống đại học. Không có nó, chúng ta sẽ không có một trường đại học đích thực dù cho chúng ta có đầu tư một nguồn tiền khổng lồ. Tuy quan trọng như vậy, nhưng thực tế là tinh thần cộng sự đích thực, cũng như tự do học thuật và sự liêm chính trong học thuật, vẫn đang bị xâm phạm ở khắp nơi trên thế giới. Xây dựng, vun đắp và bảo vệ những giá trị ấy phải được coi là công việc thiết yếu của những người tha thiết với việc tạo ra một trường đại học tử tế, những người có trách nhiệm với tương lai của giáo dục, cũng là tương lai của quốc gia.


          Tư liệu tham khảo
  • Andy Hargreaves, Ruth Dawe (1990). “Paths of professional development: Contrived collegiality, collaborative culture, and the case of peer coaching” Teaching and Teacher Education, Volume 6, Issue 3, 1990, pages 227–241
  • David B. Downing (2005). “Academic Freedom as Intellectual Property: When Collegiality Confronts the Standardization Movement.” Vol. 13, No. 1/2, Collegiality. Published by: University of Nebraska Press.
  • Joseph R. Urgo (2005). “Collegiality and Academic Community” .Symplokē, Vol. 13, No. 1/2, Collegiality, pp. 30-42. Published by: University of Nebraska Press
  • Jenny M. Lewis , Sandy Ross , Thomas Holden (2012). “The how and why of academic collaboration: disciplinary differences and policy implications”.  High Education 64:693–708. DOI 10.1007/s10734-012-9521-8
  • Judith Kegan Gardiner (2005). “On Collegiality, Collectivity and Gender,”  Symplokē, Vol. 13, No. 1/2, Collegiality. Published by: University of Nebraska Press.
  • Ly T Pham, Tho D. Dinh, Tuan V. Nguyen (2012). “Research Output and Impact of the Vietnam National University Ho Chi Minh City: a Bibliometric Analysis” (In press).
  • Malcolm Water (1989). “Collegiality, Bureaucratization, and Professionalization: A Weberian Analysis”. American Journal of Sociology, Volume 94, Number 5.
  • Nancy R. Cirillo (2005). “Collegiality: First among Whom? Community of What?” Symplokē, Vol. 13, No. 1/2, Collegiality (2005), pp. 43-55. Published by: University of Nebraska Press.
  • Phan Bội Châu (1928). Cao đẳng Quốc dân. NXB Anh Minh, 1957, Huế.
  • Terry Caesar (2005). “The Specter of Collegiality,” University of Nebraska Press.
  • Thomas Friedman (2012) “In China We (Don’t) Trust”. The New York Time. Nguồn: http://www.nytimes.com/2012/09/12/opinion/friedman-in-china-we-dont-trust.html?_r=1&
  • Tuan V Nguyen, Ly T Pham (2011) “Scientific Outputs and Its Relationship to Knowledge Econony: An Analysis of Asean Countries”. Scientometrics, July 2011. Source: http://www.springerlink.com/content/2q740023801pl651/
  • Sibande, Abednego Jerry (2012). “Collegiality as an Aspect of School Climate : Implication for School Effectiveness”. URI: http://hdl.handle.net/10210/5735

  • [1] Phần này, cùng với phần quan sát về môi trường học thuật Hoa Kỳ, đã được viết với sự giúp đỡ về tư liệu và ý tưởng của GS. Don Adams, Đại học Florida Atlantic University (Hoa Kỳ) và dựa trên một số ghi chép của GS. Adams với sự đồng ý của ông. Tác giả bài viết xin ghi nhận và trân trọng cảm ơn sự đóng góp quý báu này. Tác giả cũng xin cảm ơn GS. Russell Brooker đã giúp biên tập bản tiếng Anh.
  • [2] Từ colleague thường được dịch ra tiếng Việt là “đồng nghiệp” thực ra không sát với ý nghĩa của nó cho lắm, vì đồng nghiệp chỉ có nghĩa là người làm cùng một nghề.
  • [3] Nguổn: http://www.nytimes.com/2012/09/12/opinion/friedman-in-china-we-dont-trust.html
  • [4] Nguồn: http://www.businessdictionary.com/definition/empowerment.html#ixzz1vn8u1t3D. Dẫn theo Phạm Thị Ly (2012). “Hợp tác và trao quyền, tinh thần cốt lõi của quản trị chất lượng tổng thể trong giáo dục đại học”. Tạp chí Giáo dục và Xã hội, số 11.

Leave a Reply

*

captcha *